Tin tức

10:59 | 29/05/2014

BS. CK2. Huỳnh Minh Thế- Khoa TMH

Những người ngáy thường ngủ không ngon giấc, hay giật mình vùng dậy thở hổn hển do ngạt thở. Vì vậy, ban ngày họ thường mệt mỏi, uể oải, buồn ngủ khi đang làm việc, lái xe, khó khăn khi làm việc nặng.
Ngáy là âm thanh vang lên cùng với hơi thở làm cho hơi thở trở nên ồn ào thô ráp và khò khè trong lúc ngủ. Ngáy được tạo ra khi không khí cố gắng len qua đường thở bị hẹp hoặc bị tắc nghẽn một phần, làm rung động các phần mềm của đường hô hấp trên như lưỡi gà, màn hầu… Ngáy là bệnh khá phổ biến, đặc biệt ở những người cao tuổi và người thừa cân.
Ngáy nguy hiểm hơn người ta tưởng
Ngáy là một vấn đề xã hội phổ biến làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của người cùng phòng. Ngáy nặng, có thể gây thức giấc thường xuyên về đêm và buồn ngủ vào ban ngày. Ngáy to cũng là biểu hiện của rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng của hội chứng ngừng thở lúc ngủ. Ngáy không phải là tật mà là một căn bệnh.
Những người họng bị hẹp do màn hầu thõng, lưỡi gà dài, amiđan to, đáy lưỡi lớn… không khí khi đi qua họng thường khó khăn nhất là khi ngủ, các cơ cổ và họng thư giãn làm cho đáy lưỡi, amiđan và lưỡi gà dễ sụp lõm vào trong lòng ống họng. thiết diện của họng miệng và họng thanh quản giảm, luồng khí thở đi qua chỗ hẹp bị khuấy động làm cho màn hầu, lưỡi gà rung lên liên hồi tạo ra tiếng ngáy. Những người béo phì, hay hút thuốc lá, uống rượu hoặc mắc bệnh cao huyết áp thường mắc bệnh này.
Nguyên nhân gây ngáy
- Béo phì, cổ to : phần mềm xung quanh cổ đè ép vào đường thở.
- Nghẹt mũi do vách ngăn bị vẹo, biến dạng.
- Nghẹt mũi do cảm lạnh, dị ứng … nhất là khi bị bệnh kéo dài.
- Polype mũi, u hốc mũi, u xơ vòm mũi họng, ung thư vòm họng.
- Phù nề màn hầu hoặc lưỡi gà, phù thanh quản do suy giáp, liệt khép dây thanh một bên…
- Viêm amiđan , VA quá phát gây tắc nghẽn đường thở.
- Độ căng của cơ vùng họng – thanh quản giảm do dùng thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc chống dị ứng gây ngủ, uống rượu trước ngủ.
- Đáy lưỡi quá to, u đáy lưỡi, u hoặc nang vùng họng thanh quản.
- Xương hàm dưới nhỏ và tụt ra sau.
Những người ngáy thường ngủ không ngon giấc, hay giật mình vùng dậy thở hổn hển do ngạt thở. Vì thế, ban ngày họ thường mệt mỏi, uể oải, buồn ngủ khi đang làm việc, lái xe, khó khăn khi làm việc nặng... Ở trẻ em, tình trạng ngáy và thở khò khè do amiđan và VA to có thể gây đột tử trong khi ngủ. Vì vậy, khi thấy trẻ ngáy to và hay giật mình bừng tỉnh khi ngủ, cha mẹ nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa tai mũi họng.
Ngáy to có thể là biểu hiện của chứng ngừng thở khi ngủ. Đó là tình trạng đường hô hấp bị tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn trong khi đang ngủ, gây ngừng thở và làm người bệnh thức giấc. Bệnh hay gặp ở nam giới tuổi trung niên.
Ngừng thở khi ngủ - một dấu hiệu nguy hiểm
Ngừng thở khi ngủ là rối loạn thường gặp do hơi thở ngừng lại hoặc thở nông khi ngủ. Ngừng thở có thể kéo dài từ 10 giây đến 20 giây. Ngừng thở có thể 30 lần trong một giờ hoặc nhiều hơn. Có 4 dạng ngừng thở khi ngủ:
- Ngừng thở khi ngủ do nguyên nhân thần kinh trung ương : tất cả bệnh lý của não ảnh hưởng đến trung tâm hô hấp ở hành não như viêm hành tủy, viêm não, bệnh thoái hóa thần kinh (Parkinson), đột quỵ, tai biến mạch máu não…
- Ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn là dạng thường gặp nhất : Người bị ngừng thở lúc ngủ do tắc nghẽn thường không nhận biết mình bị bệnh, phần lớn do người thân cận nhìn thấy và kể lại các chu kỳ ngừng thở của họ: người bệnh ngáy liền và ngáy to khi vừa mới ngủ. Sau đó, ngừng thở trong vòng 10 giây đến 20 giây và hoàn toàn im lặng, không ngáy. Cuối giai đoạn ngừng thở người bệnh thường trở giấc trong trạng thái lơ mơ. Khi đó, trương lực cơ vùng cổ và họng tăng lên, ống họng nở rộng ra, không khí đi vào phổi. Tiếp đến là tiếng khịt mũi hoặc tiếng ú ớ phát ra ở họng. Cuối cơn, người bệnh thở lại như thường và tiếp tục ngủ. Điều này lặp lại nhiều lần trong khi ngủ. Buổi sáng, người bệnh thức dậy không tỉnh táo và ban ngày cảm thấy buồn ngủ hoặc ngủ gà ngủ gật.
- Phối hợp 2 nhóm nguyên nhân trên.
- Thứ phát sau chứng béo phì.

Hậu quả của ngừng thở lúc ngủ do tắc nghẽn
Ngừng thở khi ngủ nếu không được điều trị có thể dẫn đến:
• Giảm khả năng tập trung, giảm trí nhớ, dễ cáu gắt, hay đau đầu, chóng mệt…
• Giảm ham muốn tình dục.
• Năng suất làm việc và học tập giảm.
• Tăng nguy cơ gây tai nạn do buồn ngủ hoặc ngủ gục khi vận hành máy móc, lái xe
• Có thể tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch hoặc làm cho bệnh tim mạch nặng hơn: tăng áp lực phổi, rối loạn nhịp tim, suy tim, cao huyết áp, đột quỵ, đột tử…
• Ở trẻ em gây chậm phát triển thể chất và tinh thần, hành vi hiếu động thái quá (do thiếu oxy máu, thiếu oxy não kéo dài).
• Trầm cảm, lo âu..
Điều trị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn
Phần lớn người bệnh không nghĩ rằng đây là bệnh nên không quan tâm đến việc điều trị, trừ khi có biến chứng xảy ra. Việc điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây ngừng thở khi ngủ nhưng kết quả sẽ tốt hơn nếu phối hợp nhiều biện pháp. Mục tiêu của điều trị chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn là giữ cho đường thở luôn thông thoáng để hơi thở không bị ngừng khi ngủ. Thay đổi cách sống có thể làm giảm triệu chứng ngừng thở khi ngủ: Tránh uống rượu, bia hoặc thuốc an thần trước khi đi ngủ. Thay đổi tư thế ngủ: tránh nằm ngửa, nên nằm nghiêng. Năng tập thể dục để giữ cơ thể cân đối, ăn uống điều độ và có kế hoạch giảm cân ở những người béo phì.
Điều trị viêm mũi dị ứng bằng các thuốc xịt hoặc nhỏ mũi giúp cho mũi thông thoáng do bác sĩ chỉ định.
Thở áp lực dương liên tục qua mặt nạ (CPAP:continuous positive airway pressure): người bệnh phải đeo mặt nạ trong khi ngủ để làm giảm ngáy và giảm ngưng thở khi ngủ.
Một số người cần dùng dụng cụ nha khoa được đặt vào trong miệng trong khi ngủ để giữ xương hàm dưới không tụt ra sau. Nó được thiết kế cho từng người, lắp vừa khít với các răng hàm trên. Dụng cụ này kéo xương hàm dưới ra phía trước, do đó làm tăng tiết diện ống họng giúp thông đường thở.
Việc phẫu thuật được cân nhắc trong điều trị ngủ ngáy và ngừng thở do tắc nghẽn. Tùy theo nguyên nhân, các phẫu thuật đã được ứng dụng rộng rãi
• Cắt amiđan, nạo VA.
• Chỉnh hình vách ngăn, cắt polypes mũi, chỉnh hình cuốn mũi…
• Phẫu thuật chỉnh hình họng - màn hầu - lưỡi gà hoặc chỉnh hình màn hầu đơn thuần…
• Cấy chất làm cứng màn hầu để chúng không bị thõng xuống khi ngủ
• Phẫu thuật chỉnh hình xương hàm dưới.
• Mở khí quản: tạo một lỗ ở khí quản bên dưới đường thở bị tắc nghẽn để giúp thông khí.

Box PHẪU THUẬT MÀN HẦU CHỮA NGÁY
Người bệnh nên phẫu thuật chỉnh hình màn hầu khi được chẩn đoán là ngáy do hẹp eo họng. Eo họng là phần phía sau của họng bao gồm: màn khẩu cái mềm, lưỡi gà, amygdales, đáy lưỡi.
Tại bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh, chúng tôi thực hiện khá nhiều phẫu thuật chỉnh hình màn hầu. Các xét nghiệm tiền phẫu và phẫu thuật được thực hiện ngay trong ngày. Bác sĩ sẽ cắt bỏ một phần màn hầu quá phát hoặc bị nhão ở sau họng (cắt một phần khẩu cái mềm và lưỡi gà), cắt bỏ nếu amiđan quá lớn. Thời gian nằm viện trung bình là 2 ngày, sau phẫu thuật, người bệnh phải uống sữa lạnh, ăn cháo hoặc súp nguội 3 ngày, sau đó ăn mềm 10 ngày. Khoảng 14 ngày sau mổ, bệnh nhân có thể ăn uống bình thường. Phẫu thuật này có thể làm giảm ngáy 70-80% hoặc hết hẳn. Rất nhiều người ngủ ngáy và ngừng thở lúc ngủ do hẹp eo họng đã lấy lại giấc ngủ bình thường.
 

  

Khám người bệnh ngáy tại bệnh viện Vạn Hạnh

 

16:41 | 30/11/2013

Chỉ ra nguyên nhân vì đâu dẫn tới tai biến y khoa không dễ bởi “án tại hồ sơ” mà hồ sơ thì nằm trong tay bác sĩ. Tuy nhiên, có những sai lầm mà chẳng hồ sơ nào biện minh được như 5 trường hợp điển hình của năm 2012 dưới đây:

 

1. Bệnh nhân tử vong vì bác sĩ chỉ khâu vết thương ngoài bụng

Bị dao đâm thủng bụng và được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa Bảo Yên (Lào Cai), vậy mà bệnh nhân Nguyễn Hoàng Trung chỉ được bác sĩ chỉ khâu phần ngoài rồi cho về. Đến lúc bụng căng cứng, quay lại bệnh viện thì được khâu tiếp 2 lỗ ở 2 thành ruột non và 1 lỗ ở thành đại tràng. Và sau 1 tuần nằm tại viện này theo dõi, bệnh nhân nôn ra máu đen. Đến khi đưa lên cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai thì đã quá muộn, nhiều bộ phận như túi mật, phúc mạc, dạ dày bị hoại tử. Bệnh nhân tử vong sau đó ít giờ.

Cơ quan điều tra nghi việc cấp cứu nạn nhân không triệt để dẫn đến bị hoại tử các bộ phận trong ổ bụng nên đã lấy mẫu gửi cơ quan pháp y trung ương xét nghiệm còn Giám đốc Sở Y tế tỉnh, ông Nông Tiến Cương cho rằng trình độ, năng lực chuyên môn thì có vấn đề: “Bác sĩ xử lý non nớt, không tiên lượng và xử lý không hết, đường vào có một mũi dao nhưng có hai vết thủng, bác sĩ không kiểm tra, phát hiện được

 

2. Đau thận trái, cắt cả 2 quả thận

Sự việc bắt đầu từ cuối tháng 12/2011 nhưng câu chuyện bệnh nhân Hứa Cẩm Tú (ở thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ) bị cắt 2 quả thận vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của dư luận gần như trong suốt 2012 khi việc tìm người có thận hiến phù hợp không dễ và chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể trạng cho bệnh nhân nhằm đáp ứng yêu cầu ca mổ không hề đơn giản. Theo đó, với tập hồ sơ nặng đến 5kg, bệnh nhân Cẩm Tú đã phải trải qua 10 cuộc phẫu thuật trong 8 tháng (9/12 - 10/8) và như BS Bùi Đức Phú, Giám đốc BV TƯ Huế đánh giá: “Đây là 1 ca ghép thận khó nhất trong lịch sử”.

Và thủ phạm của toàn bộ sự việc này bắt nguồn từ một seri những lỗi khó “đỡ” của các bác sĩ bệnh viện Đa khoa Cần Thơ mà Hội đồng khoa học đánh giá “là những lỗi không thể chấp nhận được”.

Cụ thể, theo kết luận của Hội đồng khoa học, lỗi đầu tiên là do chẩn đoán hình ảnh vì với thận móng ngựa, khi chụp CT scanner hay X-quang đều có thể thấy rõ 2 quả thận dính vào nhau. Tiếp đó, cắt 2 quả thận mà vẫn nghĩ cắt 1, lại giải thích không rõ ràng với thân nhân người bệnh là sai lầm tiếp theo. Đặc biệt, ngay sau khi ca mổ kết thúc bác sĩ cũng không thông báo và giải thích cặn kẽ cho người nhà bệnh nhân.

 

3. Mổ thoát vị bẹn, cắt luôn cả bàng quang

Mặc dù được các thành viên trong ê kíp mổ giải thích rằng trường hợp bệnh nhi này có một khối bất thường nằm ở bên phải, rất có thể bàng quang bé bị dị dạng bất thường nhưng với các bác sĩ không tham gia ca mổ, việc cắt tới hơn nửa bàng quang của bệnh nhi là 1 ca bệnh gây sốc, thậm chí có bác sĩ không thể tin là có chuyện này. Bởi bàng quang ở vị trí cách xa điểm thoát vị bẹn, rất dễ phân biệt. Nếu có sơ suất thì cũng chỉ gây thủng chứ không thể cắt gần hết như vậy.

Điều đáng nói, sau mổ 1 ngày, khi bệnh nhân bị chướng bụng, không tiểu được, kíp mổ cũng không phát hiện được sai lầm của mình mà phải thông qua chẩn đoán của tuyến trên (bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa).

Mọi khắc phục lúc này chỉ mang tính tạm thời vì phải đợi đến khi bé đủ 5 tuổi mới có thể thực hiện việc tái tạo bàng quang và nhiều khả năng suốt đời bé phải thông tiểu chủ động.

 

4. Sưng má vì bỏ quên bông gạc trong răng

Câu chuyện quên gạc, thậm chí cả dụng cụ y khoa không phải là hiếm trong các ca mổ lớn nhưng việc quên 1 miếng bông gạc dài tới 4cm trong chân răng vừa được nhổ thì thực sự là lỗi khó chấp nhận trong y khoa.

Sau khi nhổ chiếc răng mọc lệch kéo dài 3 tiếng tại khoa Răng Hàm Mặt, bệnh viện Y dược Huế, bệnh nhân Hoàng Thị Kim Oanh (23 tuổi, trú tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) đã bị sốt cao, miệng ra máu, mủ nhiều.

Khi đưa vào BV Đa khoa huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) điều trị, các bác sĩ chẩn đoán chị Oanh bị nhiễm trùng vết thương sau phẫu thuật và lấy ra từ vết thương đã được khâu bằng chỉ tự tiêu 1 miếng bông gạc dài 4cm nằm sâu bên trong, có màu xanh, đã bốc mùi hôi thối. Và lúc này bệnh nhân mới bớt sốt, má hết sưng nhưng sụt cân nghiêm trọng trong quá trình điều trị vì không thể ăn uống.

Đại diện khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện Y Dược Huế đã thừa nhận sai sót và xin lỗi bệnh nhân cùng gia đình.

 

5. Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ tiêm vắc xin hết hạn

Là một cơ quan đầu ngành về tiêm chủng của quốc gia nhưng 1 số nhân viên y tế của Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ lại cho rằng: “Tiêm vắc-xin hết đát 1-2 tháng cũng không sao” và chỉ thừa nhận “Cái sai của trung tâm là không thông báo ngày sắp hết hạn sử dụng vắc-xin cho gia đình biết, để gia đình quyết định lựa chọn thuốc” khi gia đình bé Đinh Hà Phương (2,5 tuổi, ở Hai Bà Trưng, Hà Nội) tá hoả phát hiện con mình bị tiêm vắc xin 4 trong 1 (bạch hầu, ho gà, uốn ván và bại liệt) hết hạn sử dụng. Và sự việc không dừng ở đó khi có thêm 4 trẻ nữa cũng bị tiêm vắc xin hết hạn này.

Cuộc tranh cãi chỉ kết thúc khi Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ khẳng định: “Thuốc hết hạn là hết hạn” và đồng thời khẳng định “việc thực hiện quy trình tiêm chủng an toàn có sai sót, là lỗi của các cán bộ tiêm chủng”.

                                                                                                Việt Nga (theo dân trí)

16:40 | 30/11/2013

Từ ngày 3/4, khoảng 200.000 con loăng quăng (ấu trùng của muỗi) được thả trên đảo Trí Nguyên, Khánh Hòa, nhằm thay thế quần thể muỗi tự nhiên bằng nhóm mới có khả năng giảm sự lây nhiễm virus Dengue gây bệnh sốt xuất huyết.

 

Số loăng quăng này sẽ được thả trong vòng 12 tuần tại hơn 800 hộ dân. Sau này chúng nở thành muỗi mang vi khuẩn Wolbachia. Đây là hoạt động thuộc dự án “Đánh giá khả năng thay thế của quần thể muỗi Aedes Aegypti mang tác nhân sinh học Wolbachia”. Muỗi vằn Aedes aegypti là trung gian truyền virus Dengue gây bệnh sốt xuất huyết ở người.

Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, Wolbachia là vi khuẩn nội bào tồn tại tự nhiên ở hơn 70% loài côn trùng trên trái đất (bướm, bọ rầy, kiến, nhện...). Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã chứng minh muỗi mang vi khuẩn Wolbachia có thể ức chế khả năng phát triển của virus Dengue gây bệnh sốt xuất huyết trong cơ thể muỗi, từ đó giảm nguy cơ lây lan dịch sốt xuất huyết trong cộng đồng. Nếu quần thể muỗi mới thay thế hoàn toàn quần thể muỗi trong tự nhiên thì sẽ giảm đáng kể nguy cơ lan truyền bệnh sốt xuất huyết.

Đó là lý do Việt Nam tham gia Dự án Hướng tới loại trừ bệnh sốt xuất huyết, một dự án quy mô toàn cầu nghiên cứu về khả năng ứng dụng của muỗi Aedes aegypti mang vi khuẩn Wolbachia trong phòng chống sốt xuất huyết từ năm 2006 đến nay. Trong quá trình này, các cán bộ dự án thường xuyên tự nguyện cho muỗi vằn mang vi khuẩn Wolbachia đốt, ăn máu. Việc làm này là an toàn vì các bằng chứng cho thấy Wolbachia không truyền sang người, tiến sĩ Hiển cho biết.

Bên cạnh đó, để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sức khỏe người dân, từ cuối tháng 3, nhóm dự án đã tổ chức khám sức khỏe tổng quát lần 1 cho toàn bộ người dân trên đảo. Khi dự án kết thúc (năm 2015), người dân sẽ được khám sức khỏe nhắc lại lần 2. Đặc biệt, dự án sẽ tiến hành tìm kháng thể kháng Wolbachia trên huyết thanh của người dân đảo trước và sau khi đặt ấu trùng để đưa ra thêm các bằng chứng khoa học khẳng định lại Wolbachia không truyền sang người.

“Nếu xảy ra các vấn đề không mong muốn trong quá trình đặt loăng quăng trên thực địa, dự án sẽ ngừng ngay, đồng thời phối hợp với chính quyền và y tế địa phương thực hiện các biện pháp phòng, chống  dịch theo đúng quy định của Bộ Y tế”, Tiến sĩ Hiển nhấn mạnh.

Trước Việt Nam, Australia đã thực hiện việc thả muỗi mang Wolbachia tại một số các khu vực dân cư từ tháng 1/2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thả loại muỗi này không những không ảnh hưởng đến sức khỏe người dân mà còn có khả năng thay thế quần thể muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết trong tự nhiên 

Nguyễn Hạnh (Theo KH & Đời sống)

16:39 | 30/11/2013

Gần 8 năm đầu tư rất nhiều công sức, tiền của, chặng đường nghiên cứu, sản xuất vaccine cúm A/H5N1 của Công ty Vaccine và Sinh phẩm số 1 (Bộ Y tế) đã sắp thành hiện thực. Đây được coi là một vũ khí khống chế hiệu quả virus cúm A/H5N1 nguy hiểm hiện nay.

 

Giai đoạn thử nghiệm cuối cùng

 Đợt thử nghiệm lần thứ ba này do Học viện Quân y trực tiếp đảm nhiệm, tiến hành trên hơn 1.000 người tình nguyện tại hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Nam.

 Đây là mũi vaccine thứ hai những người này được tiêm, sau mũi tiêm thứ nhất cách đây 1 tháng. 28 ngày sau, họ sẽ được lấy mẫu máu để xét nghiệm, đánh giá hiệu quả bảo vệ của vaccine.

 Trước đó, Bộ Y tế đã tiến hành 2 đợt thử nghiệm trên gần 300 người vào năm 2008 và 2009.

 Theo Bộ Y tế, lần tiến hành thử nghiệm lâm sàng vaccine phòng cúm A/H5N1 trên người giai đoạn 3 sẽ là giai đoạn cuối cùng của quá trình thử nghiệm. Đây cũng là bước quan trọng để Bộ Y tế xác định có cho phép sản xuất đại trà vaccine phòng cúm AH5N1 hay không.

 Trong thời gian 3 tháng tới, kể từ ngày tiêm vaccine đợt cuối cùng này, Bộ Y tế sẽ tiến hành đánh giá hiệu quả của vaccine cúm A/H5N1 trên người.

Theo PGS.TS Đoàn Huy Hậu - Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Dịch tễ (Học viện Quân y), lần thử nghiệm thứ ba này vô cùng quan trọng vì kết quả sẽ quyết định cho ra đời vaccine cúm A/H5N1 “made in Việt Nam”.

 Học viện Quân y sẽ hoàn thành đánh giá kết quả xét nghiệm máu của những người tham gia tiêm thử nghiệm cuối này vào tháng Năm, rồi chuyển Bộ Y tế nghiệm thu để đưa ra kết quả chính thức.

 “Nếu sản xuất đại trà được vaccine cúm A/H5N1 sẽ tốt cho công tác phòng chống dịch vì hiện nay ở Việt Nam dịch cúm vẫn lưu hành qua nhiều năm, có nhiều nguy cơ bùng phát” - PGS.TS Đoàn Huy Hậu cho biết.

Đến nay, cúm A/H5N1 tại Việt Nam có tỉ lệ tử vong rất cao, lên tới 50%. Cụ thể, từ ca nhiễm đầu năm 2003 đến nay, Việt Nam ghi nhận 123 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó có tới 61 ca tử vong.

 

Nỗ lực sắp tới đích

GS.TS Nguyễn Thu Vân - Người chủ trì đề tài - cho biết: “Nỗ lực suốt nhiều năm qua của chúng tôi và các cộng sự đã sắp tới đích. Vaccine ngừa cúm A/H5N1 cho người sẽ sớm được đưa vào sử dụng rộng rãi chỉ trong thời gian ngắn nữa”.

Năm 2003, virus cúm gia cầm H5N1 xâm nhập và lây lan nhanh chóng ở Việt Nam khiến nhiều người tử vong. Trước mối đe dọa nguy hiểm này đối với sức khỏe và tính mạng con người, lúc đó, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo các quốc gia, virus cúm A/H5N1 có thể biến chủng nguy hiểm gây ra đại dịch cúm ở người nếu như không sớm có một loại vaccine phòng ngừa.

 Với quyết tâm nghiên cứu tìm ra phương thuốc hữu hiệu phòng chống virus H5N1 cho người dân, năm 2004, GS.TS Nguyễn Thu Vân cùng các nhà khoa học ở Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Công ty Vaccine và Sinh phẩm số 1 bắt tay vào nghiên cứu sản xuất vaccine H5N1.

 Quy trình nghiên cứu bắt đầu từ việc nuôi cấy virus trên tế bào thận khỉ tiên phát, không theo cách nghiên cứu mà nhiều nước thường làm là nuôi cấy trên trứng gà có phôi. GS.TS Thu Vân cho biết, việc nghiên cứu vaccine cúm A/H5N1 được tiến hành trên tế bào thận khỉ là một phương pháp tiên tiến nên cho dù phức tạp và thời gian lâu hơn nhưng bù lại có năng suất cao, hiệu quả, độ an toàn tốt hơn.

Cũng theo GS.TS Thu Vân, quá trình nghiên cứu sản xuất vaccine cúm A/H5N1 với hàng trăm cuộc thử nghiệm trên khỉ và gà thành công; công trình được Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá rất cao, vaccine đã tạo ra kháng thể miễn dịch, an toàn.

 Năm 2008, được sự cho phép của Bộ Y tế, nhóm nghiên cứu chính thức chuyển sang một giai đoạn mới, đòi hỏi sự chặt chẽ, chính xác, hiệu quả và an toàn cao nhất, đó chính là tiêm thử nghiệm vaccine cúm A/H5N1 trên người. Gần 4 năm qua, hàng trăm người, trong đó có cả những cán bộ, chuyên gia của nhóm nghiên cứu và Viện Vệ sinh dịch tễ T.Ư đã tình nguyện tiêm thử nghiệm vaccine cúm A/H5N1.

“Việc làm này cho thấy các nhà khoa học ý thức một cách đầy đủ trách nhiệm đối với sự an toàn của cộng đồng, sức khỏe và tính mạng của người dân. Cho tới nay, 2 giai đoạn thử nghiệm thành công vaccine cúm A/H5N1 trên người đã kết thúc với hiệu quả rất cao, khả năng đáp ứng miễn dịch gần 100% theo tiêu chuẩn của châu Âu và Tổ chức Y tế Thế giới đề ra”- GS.TS Thu Vân nói.

Cùng với việc nghiên cứu sản xuất vaccine cúm A/H5N1, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã bắt tay nghiên cứu để sản xuất vaccine cúm A/H1N1, vaccine ngừa tay chân miệng và ngừa viêm màng não mủ, với những kết quả đạt được ban đầu rất khả quan.

 

Nguyễn Hạnh (Theo Gia đình & xã hội)

Các bài đã đăng
16:38 | 30/11/2013

Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường sau 10 năm tại nước ta đã tăng từ 2,7% lên gần 6%, đây là con số đáng báo động. Trong khi đó trên thế giới, cứ 15 năm thì tỷ lệ này mới tăng gấp đôi.

 

Đây là kết quả nghiên cứu do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện vào năm 2012, vừa  công bố tại Hà Nội. Hơn 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã tham gia nghiên cứu. 

 

Cụ thể, gần 6% dân số Việt Nam bị tiểu đường, trong đó tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ (hơn 7%), thấp nhất là Tây Nguyên (gần 4%). Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 13% năm 2012.

 

Theo tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, Phó giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương, nguyên nhân của thực trạng này là do sự thay đổi về lối sống dẫn đến thay đổi về dinh dưỡng, thu nhập năng lượng dư thừa và cơ cấu bữa ăn thay đổi với tỷ lệ protein, lipid chiếm ưu thế, rau xanh và khoáng chất ít đi. Bên cạnh đó phải kể đến lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực do sử dụng các phương tiện cơ giới thay cho hoạt động thể lực trong sinh hoạt và công việc. Sự kết hợp của một loạt các yếu tố trên đã sinh ra bệnh đái tháo đường. 

 

Cũng theo nghiên cứu, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường tuýp 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi. Người bị huyết áp cao cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác hơn 3 lần. Người có vòng eo lớn nguy cơ mắc cao hơn 2,6 lần. 

 

Bên cạnh đó, một thực trạng đáng quan tâm là tỷ lệ người bệnh trong cộng đồng không được phát hiện ở nước ta là gần 64%, cao hơn hẳn so với thế giới. Trên thế giới, cứ một người bệnh được quản lý điều trị thì sẽ có 1 người đái tháo đường trong cộng đồng không được chẩn đoán (50%). Kiến thức chung về bệnh của người dân cũng rất thiếu. Gần 76% số người được hỏi có kiến thức rất thấp về chẩn đoán và biến chứng của bệnh, chỉ có 0,5% có kiến thức tốt, tiến sĩ Quang cho biết. 

 

Vì thế, Chiến lược quốc gia phòng chống đái tháo đường giai đoạn 2013-2020 đặt ra mục tiêu tăng cường sàng lọc tại cộng đồng để phát hiện người bị tiền đái tháo đường, bị đái tháo đường. Đồng thời nâng cao chất lượng can thiệp, đảm bảo 80% người bệnh sau tư vấn thay đổi lối sống. 

 

Theo Hiệp hội đái tháo đường Thế giới, bệnh thường xảy ra âm thầm, khi biểu hiện rõ thì  đã có biến chứng đe dọa tính mạng. Tại Việt Nam, cứ 10 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh thì 6 người đã có biến chứng. Ngay các bệnh nhân đã được chẩn đoán cũng chưa điều trị đúng mức. Hậu quả của nó rất nặng nề, là thủ phạm của nhiều bệnh hiểm nghèo như tim mạch, tai biến mạch máu não, suy thận, hoại tử chi...

 

Vì thế, các chuyên gia khuyến cáo, nếu đang ở giai đoạn tiền đái tháo đường thì người bệnh cần có kế hoạch kiểm soát tốt để không tiến triển thành bệnh. Tiền đái tháo đường là tình trạng đường huyết cao hơn mức bình thường nhưng chưa đủ để chẩn đoán bệnh. Nếu không can thiệp, 33% bệnh nhân tiền đái tháo đường có thể tiến triển thành bệnh.

 

Trường hợp đã mắc bệnh thì cần tuân thủ đúng hướng dẫn. Với bệnh nhân tiểu đường việc điều chỉnh chế độ ăn là một trong những mục tiêu quan trọng. Một việc tưởng chừng như đơn giản nhưng lại hết sức khó khăn, đó là khẩu phần ăn cần đảm bảo chất bột đường chiếm 50-60% tổng năng lượng, chất đạm chiếm 15%, mỡ động vật ít dưới 7%.

 

Biểu hiện của bệnh thường là người mệt mỏi, đi tiểu nhiều, sút cân, vết thương lâu lành, luôn đói, có vấn đề về sinh hoạt tình dục, nhìn mờ, khát, uống nhiều nước, nhiễm khuẩn âm đạo… Hiện chưa có thuốc chữa khỏi bệnh nhưng 80% trường hợp mắc đái tháo đường tuýp 2 có thể phòng tránh được bằng chế độ ăn uống hợp lý và tăng cường hoạt động thể lực.

Hà Giang (Theo  VnExpress)

16:37 | 30/11/2013

Ngày 17/4, Trung tâm nghiên cứu, sản xuất vắcxin và sinh phẩm y tế (Polyvac) đã chính thức nhận chuyển giao công nghệ từ các chuyên gia của Nhật Bản để tự sản xuất vắcxin phối hợp Sởi - Rubella.

 

Tại buổi ký kết biên bản thảo luận - văn kiện chính thức của dự án “Tăng cường năng lực sản xuất vắcxin phối hợp sởi - rubella” tổ chức chiều cùng ngày tại Hà Nội, ông Tsuno Motonori - Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam cho hay Việt Nam là nước đầu tiên Nhật Bản tiến hành chuyển giao công nghệ sản xuất loại vắcxin phối hợp này.

          Theo đó, dự án được bắt đầu triển khai từ tháng 5 năm 2013 và kéo dài trong gần 5 năm, với tổng ngân sách dự kiến khoảng 707 triệu yên Nhật (tương đương 7,5 triệu USD).

          Trong dự án này, JICA sẽ cử các chuyên gia Nhật Bản sang chuyển giao công nghệ và tiếp nhận đối tác Việt Nam sang Nhật Bản học tập công nghệ sản xuất vắcxin.

          Polyvac - Nhà máy sản xuất vắcxin sởi do JICA viện trợ có công suất 7,5 triệu liều/năm, sẽ được trang bị và bổ sung thêm thiết bị để có thể sản xuất được vắcxin phối hợp sởi-rubella.

          Dự kiến đến cuối năm 2017, Polyvac sẽ tự chủ được công nghệ sản xuất vắcxin phối hợp trên và năm 2018 sẽ bắt đầu cung cấp vắcxin này cho trong chương trình tiêm chủng mở rộng.

          Ông Tsuno Motonori chia sẻ: “Vắcxin phối hợp sởi-rubella có ưu điểm là ít gây ra tác dụng phụ cho trẻ. Polyvac - nhà máy sản xuất vắcxin đạt tiêu chuẩn GMP (Thực hành sản xuất tốt) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kết hợp với công nghệ sản xuất tiên tiến của Nhật Bản, chúng tôi hy vọng Việt Nam có thể tự sản xuất vắcxin phối hợp sởi-rubella với chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như các nước khác trong khu vực”.

          Ông Tsuno Motonori cũng cho hay, năm 2011, Việt Nam có 4.000 phụ nữ mang thai mắc rubella trong vòng ba tháng đầu và đã có 200 trẻ bị khuyết tật do những hậu quả do người mẹ nhiễm rubella. Vì vậy, việc Việt Nam tự sản xuất vắcxin sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe cho trẻ em và giảm thiểu số trẻ khuyết tật sinh ra do mẹ mắc rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

          Theo các chuyên gia về y tế, trẻ bị nhiễm rubella từ người mẹ dễ bị các dị tật như mù lòa, điếc, thần kinh…

          Theo khuyến cáo của WHO, Việt Nam có kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm phòng vắcxin phối hợp sởi-rubella trong năm 2013 và 2014, sau đó tiến tới thay thế vắcxin sởi đơn mũi 1 bằng vắc xin phối hợp sởi-rubella trong chương trình tiêm chủng mở rộng.

          Polyvac bắt đầu tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất vắcxin sởi đơn từ Nhật Bản vào năm 2006, đến cuối năm 2009 đơn vị này đã làm chủ được công nghệ và cung cấp vắcxin sởi cho thị trường Việt Nam.

          Tính đến cuối năm 2012, khoảng 9,2 triệu liều vắcxin sởi do Polyvac sản xuất đã được cung cấp cho chương trình tiêm chủng mở rộng.

Nguyễn Hạnh (Theo Vietnam+)

10:58 | 29/11/2013

Cử nhân Ngô Phạm Hoàng Minh

Bệnh viện Điều dưỡng- Phục hồi chức năng – Điều trị bệnh nghề nghiệp

 

I.          Mục tiêu Vật lý trị liệu

Giúp bệnh nhân tập những bài tập hô hấp tự chủ trong sự hô hấp để tránh cơn hen ban đầu

Gia tăng hoạt động cơ hoành để tránh sự thiếu hụt hô hấp và tạo sự thư dãn cho bệnh nhân

Phân chia hô hấp bụng,sườn,sườn trên,sườn dưới để chống lại sự mất đồng vận ngực-bụng (hô hấp bị hỗn loạn trong cơn hen )

Phân chia sự đồng vận giữa hít vào, và sự tham gia của đai vai và các cơ hô hấp phụ và phát triển khả năng thở ra của bệnh nhân

Đạt sự thư dãn tốt nhất

II.         Các bài tập

1.   Thở mím môi ( Purse lip breathing = PLB)

Mô tả: Thở mím môi được thực hiện bằng cách hít vào bằng mũi chậm trong vài giây với miệng đóng , rồi thở ra chậm trong 4-6 giây xuyên qua môi mím như đang huýt sáo

Mục đích: giúp cho bệnh nhân dễ thở,tạo sự thoải mái và trấn tĩnh cho bệnh nhân.

 

 
 
 

 

 

2.   Thở cơ hoành (Diaphragmatic breathing )

Mô tả: Bệnh nhân được hướng dẫn thở ở các tư thế: nằm ngửa, nghiêng, ngồi, đứng, đi … Bệnh nhân thở ra hơi dài, sau đó hít vào sâu đẩy bụng tròn lên.

Mục đích: tạo sự thoải mái cho bệnh nhân, thư dãn cơ bụng và tăng dung tích sống.

 

 
 
 

 

 

 
 
 

 

3.         Thông khí theo tỉ lệ phân số (VRI hay VRE)

Mô tả: Bài tập thông khí thở ra và hít vào theo tỉ lệ phân số là nối tiếp của những giai đoạn thông khí chủ động với thời gian nín thở. Ví dụ như thở ra 2 giây, nín thở 2 giây, thở ra 2 giây, hít vào 3 giây.

Loại bài tập này cho phép thay đổi thông khí trong VRE (volume resisuder expiratoire : dung tích khí dự trữ thở ra)  hay trong VRI (volume residure inspiratoire: dung tích khí dự trữ hít vào)

Cho bệnh nhân thở ra hơi dài, sau đó hít vào sâu, thở ra 2 giây rồi nín thở 2 giây , hít vào 3 giây (các bài tập thở theo biểu đồ bên dưới )

Mục đích: Kiểm soát mẫu thở dùng cho bệnh nhân hen phế quản

 

 

 

4.         Một số tư thể thư dãn cho bệnh nhân khó thở

Mục đích:

-                 Để các cơ hô hấp phụ bớt hoạt động

-                 Giảm năng lượng hoạt động thở

-                 Giảm sự lo lắng gây ra bởi cơn khó thở

-                 Tạo cảm giác thoải mái nhẹ nhàng

 

 

Một số tư thế thư dãn:

 

 
 
 

 

 

5.         Tài liệu tham khảo

-                 Giáo trình Vật lý trị liệu hô hấp – ĐH Y dược TPHCM

-                 Physical Medicine and Rehabilitation : Rehabilitation of the patient with respiratory dysfun

10:57 | 29/11/2013

     Ths.BS Trần Anh Tuấn

                      Trưởng khoa Hô Hấp-Bệnh viện Nhi Đồng 1  

 

Hen phế quản (suyễn) là một vấn đề cần được quan tâm đúng mức. Thật vậy, đây chính là bệnh hô hấp mãn tính thường gặp nhất ở trẻ em. Tỷ lệ trẻ em mắc bệnh hen cũng cao gấp đôi người lớn (10% so với 5%). Thế nhưng, trên thực tế, việc chẩn đoán hen ở trẻ em nhiều khi bị chậm trễ, nhất là ở trẻ dưới 2 tuổi. Điều này tất yếu đã hạn chế hiệu quả điều trị: trẻ thường xuyên bị lên cơn, phải nhập viện, thậm chí có thể tử vong.   

  1. Hen là gì ?

Đây là một bệnh viêm mãn tính của đường thở. Tình trạng viêm này làm cho đường thở trở nên rất nhạy cảm với các chất kích thích khác nhau. Khi tiếp xúc với các chất kích thích này, đường thở (chủ yếu là phế quản) sẽ phù nề, co thắt, chứa đầy chất nhầy nên bị tắc nghẽn khiến cho bệnh nhân có cơn  ho, khò khè, khó thở. 

Hen là bệnh có tính chất gia đình, di truyền và hoàn toàn không phải là bệnh lây lan, truyền nhiễm.

  1. Làm thế nào để biết được trẻ mắc bệnh hen ?

Chẩn đoán thường dễ dàng khi trẻ đang lên cơn: trẻ ho, có cảm giác nặng ngực, thở khò khè, khó thở (thở nhanh, thở co kéo lồng ngực, co kéo cơ vùng cổ, cánh mũi phập phồng…). Tuy nhiên, không phải lúc nào việc chẩn đoán cũng dễ dàng.  

Cần nghi ngờ trẻ mắc bệnh hen khi trẻ bị ho tái đi tái laị nhiều lần (đặc biệt là ho về đêm), khò khè, khó thở xuất hiện hay nặng hơn khi trẻ tiếp xúc với các yếu tố khởi phát (khi thay đổi thời tiết, khi trẻ gắng sức, hay khi ăn “trúng” một thức ăn nào đó,...). Nếu như khò khè, khó thở là những gợi ý khá điển hình, thì triệu chứng ho tái đi tái laị là triệu chứng khá đặc biệt và thường bị bỏ sót. Thật vậy, có khi trẻ mắc bệnh hen chỉ biểu hiện bằng những cơn ho về đêm (nhiều đến mức làm trẻ không thể ngủ được) mà không hề có triệu chứng gợi ý nào khác và ban ngày trẻ lại hoàn toàn bình thường. Một số nhà chuyên môn thường goị đây là “hen dạng ho” – một thể khá đặc biệt cuả bệnh và thường bị bỏ sót.

Trong trường hợp này, trẻ cần được đưa đến khám chuyên khoa hô hấp để có thể được chẩn đoán phù hợp.

Ở trẻ dưới 2 tuổi, cần nghĩ đến hen khi trẻ bị khò khè tái phát ít nhất 3 lần ngay cả khi trong gia đình không có ai bị hen, dị ứng.    

  1. Làm thế nào để chẩn đoán khi trẻ không lên cơn hay khi trẻ có biểu hiện không điển hình ?

Đo hô hấp ký là một nghiệm pháp không quá đắt tiền có thể giúp chẩn đoán hen khi nghi ngờ hen, khi bệnh nhân không lên cơn hoặc khi có biểu hiện không điển hình, không rõ ràng mà một số thầy thuốc goị là “hen dấu mặt”. Tuy nhiên, đây là một nghiệm pháp gắng sức đòi hỏi bệnh nhân phải biết hợp tác nên thường khó thực hiện được cho trẻ dưới 6 tuổi.  

  1. Các biện pháp chung để chăm sóc trẻ bị hen ?

Tránh những nguyên nhân có thể làm khởi phát cơn hen :

+           Không để thú vật (chó, mèo,…) trong nhà, diệt gián

+           Không hút thuốc lá trong nhà và ở nơi gần trẻ

+           Không để những chất nặng mùi trong nhà .

+           Tránh dùng các loại thuốc xịt như: nước hoa xịt phòng, thuốc xịt muỗi…

+           Côn trùng

+           Tránh nhang khói   

Nơi ngủ của trẻ: cần được dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp, không nên trải thảm. Thường xuyên giặt khăn trải giường và chăn mền bằng nước nóng, phơi khô ngoài nắng. Không nên cho trẻ chơi thú nhồi bông cũng như không cho thú vật vào nơi trẻ ngủ. Dùng cửa sổ (đóng hay mở) để duy trì không khí sạch và trong lành. 

  1. Cần làm gì khi trẻ lên cơn hen ?

-         Cần nhận biết sớm các dấu hiệu cho biết một cơn hen đang đến: ho, khò khè, nặng ngực, khó thở, thức giấc về đêm.

-         Trong trường hợp này nếu đã được thầy thuốc hướng dẫn, cần cho trẻ dùng thuốc cắt cơn tác dụng nhanh (dưới dạng hít hay xông). Dù trẻ tốt lên cũng cần cho trẻ nghỉ ngơi trong 1 giờ.

  1. Khi nào cần đưa trẻ đến bệnh viện cấp cứu ngay ?

-         Thuốc cắt cơn không có tác dụng hoặc chỉ có tác dụng ngắn, trẻ vẫn còn khó thở

-         Nói năng khó nhọc

-         Trẻ phải ngồi thở, co kéo vùng xung quanh xương sườn và cổ khi thở

-         Cánh mũi phập phồng

-         Tím tái môi hay đầu ngón tay: đây là dấu hiệu rất nguy kịch.

 

10:56 | 29/11/2013

BS Trần Văn Năm

Viện Y Dược học Dân tộc

 

Sữa mẹ, một loại thức ăn không thể thiếu được cho trẻ từ ngay sau khi có tiếng khóc chào đời, nhưng không phải mọi bà mẹ đều luôn có đủ sữa cho con và đó cũng là nổi lo lắng của không ít các bà mẹ trẻ mà ngay cả các bậc ông bà cảm thấy lo lắng khi nhìn cháu yêu của mình vẫn quấy khóc sau khi bú mẹ và chậm lên cân.

 

Vì sao mẹ lại thiếu sữa?

Có vài nguyên nhân gây thiếu sữa:

-             Mẹ ăn uống kém không đủ chất dinh dưỡng, do mệt mỏi sau sanh;

-             Stress tâm – thể sau sinh;

-             Nguyên nhân tại các ống dẫn sữa, viêm núm vú…

Hai tình huống thiếu sữa mẹ cho con bú thường gặp:

-             Bầu vú không căng sữa:

o   Thường do sử dụng nhiều thuốc kháng sinh, giảm đau sau khi sinh. Cần chú ý có bệnh lý dạ dày kèm theo gây chán ăn hoặc kém hấp thu, nên người mẹ thường trong trạng thái suy nhược. Trong điều trị cần tăng cường chất dinh dưỡng đủ các thành phần đạm, dầu, bột – đường và các loại rau củ để có chất khoáng và vitamin.

o   Lo lắng, stress sau sinh ảnh hưởng đến tâm – sinh lý của người mẹ. Nên ngoài việc bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cần phải có sự ân cần, quan tâm chăm sóc động viên của người thân đặc biệt là ông xã.

-             Bầu sữa căng kèm cảm giác tức, đau:

o   Lượng sữa đủ, nhưng có thể các ống dẫn sữa không thông do bị hẹp hoặc tắc do viêm.

o   Biện pháp điều trị:

§  Cơ học: hút, xoa, vắt với lực vừa phải, nhẹ nhàng trên vú để giúp tiết được sữa.

§  Thuốc kháng viêm đặc biệt từ các loại rau, quả, đậu… có tác dụng làm thuốc như: bồ ngót, rau đay, đu đủ (vừa chín), mướp hương, nghệ, gừng, các rau có lá màu xanh đậm…

 

Các món ăn từ dược liệu giúp tăng tiết sữa

Trong đông y, từ một số dược liệu, rau, ngũ cốc cũng có có thể chế biến thành những món ăn rất đơn giản có thể giúp mẹ lợi sữa để nuôi con.

-            Cây đinh lăng lá nhỏ: lá đinh lăng tươi nấu với với cá đồng hoặc thịt nạc giúp tăng dinh dưỡng và tăng lượng sữa; rễ đinh lăng lâu năm (40 g) nấu với 6 – 8 g gừng tươi trị tắc tia sữa.

-            Đậu đỏ nấu với mè đen: giúp nhuận trường và tăng lượng sữa.

-            Rong biển nấu nước uống: cung cấp acid amin, khoáng chất, vitamin… giúp tăng lượng sữa.

-            Quả đu đủ (vừa chín) hầm với giò heo: nhờ chất enzyme papain cải thiện tình trạng tắc tia sữa và tăng chất đạm, béo cho mẹ.

-            Quả mướp hương nấu với thịt hoặc cágiúp tăng lượng sữa và cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho mẹ.

Một số dược liệu khi nấu uống cũng giúp tăng lượng sữa hoặc dễ tiết sữa: quả trâu cổ, cây cỏ sữa, cây thông thảo, ngó sen, tảo Spirulina

10:55 | 29/11/2013

BS. Trần Văn Năm

Viện Y Dược Học Dân Tộc

 

Châm cứu là phương pháp điều trị bệnh không thể thiếu được của y dược cổ truyền (YDCT) phương đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Tại Việt Nam, từ ngàn xưa tổ tiên ta dùng châm cứu rộng rãi trong phòng – trị bệnh cho người dân. Hiện nay, không chỉ người VN ưa chuộng cách điều trị không bằng thuốc này mà cả các khách du lịch hoặc chuyên gia ngoại quốc đến VN làm việc. Điều đó chứng tỏ châm cứu có tác dụng trị bệnh thật sự của nó.

 

Châm cứu là tên gọi của hai hình thức khác nhau:

-        Châm: dùng kim xuyên qua da của một vùng cơ thể nhất định, gọi là huyệt.

-        Cứu: dùng là khô của cây Ngãi cứu (Artemisia vulgaris L.) đốt lên để hơ nóng trên huyệt.

Có nhiều loại hình châm cứu

Hiện nay có nhiều trường phái châm cứu được sử dụng phổ biến như:

-        Thể châm (châm các các huyệt trên cơ thể)

-        Nhĩ châm (châm các huyệt trên loa tai)

-        Diện châm (châm hoặc ấn các huyệt trên mặt)

-        Túc châm, thủ châm, tỵ châm,…

-        Châm tê (phát triển mạnh ở các Tỉnh – Thành miền Bắc VN), trường châm, mãng châm, chôn chỉ…

Mỗi loại châm cứu đều có một hiệu quả nhất định trên một số dạng bệnh lý khác nhau.

Theo YHCT: bệnh tật phát sinh do sự mất cân bằng giữa 2 yếu tố “âm” và “dương” trong cơ thể:

-        Âm: nền tảng vật chất, thụ động, tính mát – lạnh…

-        Dương: năng lực hoạt động, chủ động, tính ấm – nóng…

Khi âm và dương mất cân bằng, cơ thể sẽ bị giảm khả năng chống đỡ với bệnh tật, kinh – mạch (hệ thống các đường dẫn năng lượng, chất dinh dưỡng, dịch thể nối liền giữa các cơ quan và bộ phận của cơ thể với nhau) bị tắc nghẽn và bệnh sẽ phát sinh.

Châm cứu giúp phục hồi lại sự tuần hoàn tốt của hệ kinh - mạch và tăng khả năng phòng vệ của cơ thể (sức đề kháng) nên có thể phòng và trị được bệnh.

Theo YHHĐ: qua nghiên cứu trên thực nghiệm và trên người, một số kết quả ghi nhận được:

-        Khi đo điện trở vùng da trên huyệt và đường kinh, cho trị số điện trở thấp hơn vùng da không phải là huyệt và đường kinh. Ứng dụng tính chất này trong chẩn đoán bệnh và thủ thuật tác động điều trị.

-        Khi châm cứu cơ thể thay đổi nồng độ của của các chất dẫn truyền thần kinh như: morphine nội sinh,  cũng như các nội tiết tố: estrogen, testosterone, cortisol…tăng các tế bào bạch cầu đa nhân, tế bào lympho…

-        Châm cứu giúp an thần, giãn cơ, tăng ngưỡng đau.

Châm cứu được áp dụng điều trị các bệnh

-        Giảm đau trong các loại bệnh lý như: thoái hoá khớp, bệnh đĩa đệm cột sống mức độ nhẹ, đau sau chấn thương, đau đầu migrain, đau do co thắt cơ trơn…

-        Phục hồi liệt: di chứng tai biến mạch máu não, sau chấn thương, liệt thần kinh số VII ngoại biên…

-        Rối loạn giấc ngủ, căng thẳng (stress).

-        Tăng cường dinh dưỡng mô, cơ, da và tổ chức dưới da (dùng trong thẩm mỹ).

-        Tăng sức đề kháng, hỗ trợ cắt cơn thiếu thuốc (thuốc lá, thuốc gây nghiện…).

Để châm cứu có hiệu quả tốt nhất, lưu ý:

-        Người Thầy thuốc: được đào tạo tốt, tự tin, có sức khỏe tốt, tập trung khi thao tác, bảo đảm nguyên tắc vô trùng y dụng cụ.

-        Đối với Người bệnh: tin tưởng, tâm trạng thoải mái, không quá lo sợ, không ăn quá no, quá đói.

Những trường hợp cần cẩn thận hoặc chống chỉ định sử dụng châm cứu

-        Người bệnh căng thẳng, sợ kim.

-        Tránh một số huyệt nhạy cảm khi người bệnh có thai.

-        Da chai, sẹo hoặc đang viêm nhiễm.

-        Tránh các vùng có mạch máu lớn, bệnh lý rối loạn đông máu, hoặc đang dùng thuốc kháng đông máu.

-        Người bệnh không hợp tác (kết quả sẽ kém).

Châm cứu có tác dụng tốt trong các trường hợp bệnh lý có căn nguyên rối loạn chức năng, các bệnh lý gây đau do nguyên thần kinh, co thắt cơ vân – cơ trơn, do liệt vận động, một số bệnh lý viêm không do vi trùng mạn tính…